Khi đó độc giả nợ tác giả một lời đánh giá. Đơn giản cũng đồng nghĩa với việc thiếu các bộ phận. Ông dùng từ pointer-reading để chỉ việc đọc các con số hay ký hiệu trên các dụng cụ khoa học, tức là sử dụng từ reading theo nghĩa hoàn toàn thông dụng chứ không phải theo nghĩa chuyên môn.
Chỉ khi đó, họ mới sẵn sàng nghiên cứu vở kịch kỹ hơn và cẩn thận hơn vì lúc này họ đã hiểu vở kịch đủ để nghiên cứu sâu hơn. Trong phần này, chúng tôi sẽ nói kỹ về những câu hỏi này hơn là về các quy tắc đọc; đề cập đến quy tắc mới, ôn lại hoặc sửa đổi quy tắc cũ. Ranh giới giữa một câu ghép dài và một đoạn văn ngắn vô cùng mong manh.
Trong khi nỗ lực hiểu từng ý nhỏ, bạn sẽ bỏ qua các ý lớn được Smith đề cập rất rõ như các nhân tố vê tiền lương, tiền cho vay, lợi nhuận, lợi tức, vai trò của thị trường, những mặt xấu của độc quyền, những lý do cần có sự tự do thương mại… Bạn sẽ thấy cây mà không thấy rừng. Nói cách khác, ông đã dựa trên ngôn ngữ đời thường để truyền đạt ý tưởng của mình tới độc giả. Mỗi cuốn sách chỉ có một vài câu then chốt, nhưng không phải vì có câu then chốt mà bạn coi nhẹ các câu khác.
Các tác phẩm khoa học xã hội không giới hạn ở người thuật việc thật. Nhiều tác gia hiện đại đã học tập cách này của Shaw nhưng cũng không thể sánh được với ông về hiệu quả mang lại. Trong cấp độ đọc này, có một số vấn đề mất nhiều công sức để xử lý.
Lúc này, có một điều rất đáng lưu tâm xảy ra. Khi đó, bạn sẽ làm gì? Họ nhanh chóng từ bỏ đọc tác phẩm vì nghĩ rằng mình không thể nhớ được các mối quan hệ phức tạp và cũng không thể phân biệt ai với ai.
Hai là, độc giả phải có khả năng vượt qua sự chênh lệch này ít hay nhiều. Aristotle là người luôn suy nghĩ rạch ròi, nhưng mức độ khó trong các tác phẩm còn tồn tại của ông khiến các học giả cho rằng chúng chính là những ghi chú cho các bài diễn thuyết, sách, hoặc là những ghi chú của chính Aristotle hay của một sinh viên nào đó ghi lại những lời dạy của thẩy mình. Một câu đơn như John Doe đã ký hợp đồng ngày 24 tháng 3 trông có vẻ đơn giản nhưng nó nói lên nhiều điều cả đúng và sai.
Lý do vì họ không biết làm thế nào để tập trung đầu óc vào những việc đang làm. Hệ thống hoá triết học: Vào thế kỷ XVII, một kiểu trình bày khác của triết học ra đời nhờ công của hai nhà triết học nổi tiếng là Descartes và Spinoza. Điều này rất dễ nhận ra.
Trong giai đoạn này, trẻ có nhiều mục đích học đọc khác nhau, và đọc nhiều nội dung khác nhau như khoa học, nghiên cứu xã hội, ngôn ngữ, nghệ thuật… Trẻ học được rằng việc đọc không chỉ là điều phải thực hiện ở trường, mà còn là việc người ta có thể tự làm để thoả mãn trí tò mò, hay để mở rộng tầm hiểu biết. Sau khi đã luyện tập từng động tác một, bạn có thể làm dễ dàng từng động tác mà không cần tập trung nhiều, hơn nữa còn có thể thực hiện chúng cùng một lúc rất thành thạo. Để tránh sai lầm cho rằng đọc nhiều đồng nghĩa với đọc hiệu quả, chúng ta phải phân biệt các cách học.
Nhưng tốt hơn là hãy đánh số bên lề cùng các dấu hiệu khác để biểu thị vị trí của các câu có thể tập hợp thành chuỗi. Tất nhiên, chúng ta có thể khá chắc chắn với một vài loại thông tin lịch sử. Trước khi tiếp tục giải thích kiểu đọc phân tích, chúng tôi muốn đề cập lại bản chất của hoạt động đọc.
Thứ ba, bạn cần tránh thiên vị đến mức mù quáng. How to read a book (Đọc sách như một nghệ thuật) của hai tác giả Mortimer J. Điều đó đồng nghĩa với việc bạn phải biết mọi vấn đề mà nhân loại nói chung đồng tình.